GIỚI THIỆU NHÀ MAY

Tên dùng
Mật khẩu

-->
1 user browsing this thread: (0 members, and 1 guest).
Đăng  trả lời 
 
Đánh giá chủ đề:
  • 1 Votes - 5 Average
  • 1
  • 2
  • 3
  • 4
  • 5
Hướng dẫn kỹ thuật chăn nuôi lợn thịt, lợn sinh sản
Bài viết: #1
07-04-2011 , 07:23 PM
ngothituyethang2000 Offline
Junior Member
**

Bài viết: 34
Thanks Given: 0
Thanks Received: 0 in 0 posts
Tham Gia: Mar 2011
Danh tiếng: 0
Hướng dẫn kỹ thuật chăn nuôi lợn thịt, lợn sinh sản
                                                                                                                                            
I- Kỹ thuật nuôi lợn thịt
1. Chọn giống:
- Giống kiêm dụng thịt-mỡ (tỷ lệ nạc từ 38% đến 40%): Nên nuôi lợn lai F1 (giống lợn Đại bạch lai với giống lợn Móng Cái hoặc giống lợn Landrace lai với giống lợn Móng Cái). Để nuôi lợn thịt, lợn đực nên thiến lúc 2 tuần tuổi; lợn cái nên thiến lúc 3 tháng tuổi.
- Giống lợn nuôi hướng nạc (trên 50% nạc): Đây là giống lợn ngoại thuần chủng như lợn Đại Bạch, Landrace… Đối với giống lợn này, lợn cái không cần phải thiến vì đến tuổi thành thục thì cũng là đến thời điểm xuất chuồng.
* Chọn mua con giống nuôi thịt: Chọn những con da mỏng, lông thưa vừa phải, hồng hào, nhanh nhẹn, hoạt bát, mắt tinh nhanh, đuôi cong, trường mình, mông, ngực và vai nở; bụng thon, chân thanh, vững chắc. Không mắc bệnh trong thời gian theo mẹ.
2. Chăm sóc, nuôi dưỡng:
2.1. Chuồng trại: Chọn nơi khô ráo, thoáng mát về mùa hè, ấm về mùa đông. Nền chuồng làm bằng vật liệu cứng: Xi măng, gạch,… dốc 2% về phía rãnh chuồng. Hố chứa phân phải có nắp đậy. Mái chuồng nên làm bằng vật liệu chống được nóng như: lá cọ, lá mía, rơm, rạ. Nếu lợp bằng tôn hoặc Fibrô-ximăng thì phải làm cao hơn để chống nóng. Có phên che chắn cơ động; ngày nắng ấm mở thông thoáng, khi mưa rét che kín chống gió lùa. Nên trồng cây bóng mát quanh chuồng. Trước khi nhập lợn về nuôi và sau khi xuất bán lợn đều phải sử dụng thuốc sát trùng hoặc nước vôi đặc tẩy uế chuồng, rãnh và hố phân.
2.2. Thức ăn và chăm sóc:
Lợn nuôi thịt có đặc điểm là sinh trưởng theo từng giai đoạn: Giai đoạn đầu chủ yếu phát triển về cơ, xương, tiếp theo là giai đoạn phát triển về nạc và sau cùng là giai đoạn tích luỹ mỡ. Từ những đặc điểm đó cần chăm sóc, nuôi dưỡng phù hợp với từng giai đoạn sinh trưởng.
* Giai đoạn lợn con từ 61 ngày tuổi đến 90 ngày tuổi (trọng lượng từ 15kg đến 30kg): Đây là giai đoạn lợn con vừa cai sữa mẹ, hơn nữa nhu cầu phát triển cơ, xương cao; vì vậy thức ăn cần nhiều đạm, khoáng, vitamin. Hỗn hợp thức ăn nên như sau:
+ Thức ăn tinh 78% (cám ngô, cám gạo,…).
+ Thức ăn giàu đạm 20% (đậu tương rang nghiền, bột cá,…).
+ Prêmix khoáng 1%.
+ Prêmix vitamin 1%.
- Về chăm sóc: Chú ý vệ sinh sạch sẽ và cho ăn nhiều bữa trong ngày (4 bữa đến 5 bữa). Ngoài ra nên cho ăn thêm rau xanh (0,4kg đến 0,5kg/con/ngày).
* Giai đoạn từ 90 ngày tuổi đến 150 ngày tuổi (trọng lượng từ 31kg đến 61kg): Giai đoạn này thể vóc càng phát triển thì càng có điều kiện tốt hơn cho giai đoạn vỗ béo sau này. Vì vậy cần tăng cường cho ăn nhiều rau xanh và giảm bớt thức ăn giàu đạm. Sử dụng thức ăn tinh ở mức 82%, thức ăn giàu đạm chỉ cần 16%, Prêmix khoáng 1%, Prêmix vitamin 1%. Cuối giai đoạn này cần tẩy giun sán.
* Giai đoạn vỗ béo: Đây là giai đoạn tích luỹ mỡ, thức ăn chủ yếu là tinh bột. Tỷ lệ thức ăn giàu đạm cần 8%. Nên cho lợn ăn hỗn hợp cám khô, càng nhiều bữa càng tốt. Cho uống đủ nước sạch, hạn chế vận động. Nếu là mùa hè thì chuồng trại phải thoáng mát, mỗi ngày cần tắm cho lợn 2 lần. Về mùa đông phải giữ ấm cho lợn.
2.3. Khẩu phần ăn: Tổng lượng thức ăn cho 1 con lợn/1 ngày tăng dần tương ứng với trọng lượng lợn:
- Lợn 10kg cần: 0,5kg.
- Lợn 20kg cần: 1,2kg.
- Lợn 30kg cần: 1,5kg.
- Lợn 40kg cần: 1,7kg.
- Lợn 50kg cần: 2,0kg.
- Lợn 70kg cần: 2,4kg.
- Lợn 90kg cần: 3,0kg.
(Lượng thức ăn trên không tính thức ăn xanh).
3. Công tác thú y:
* Bệnh dịch tả: Đây là bệnh nguy hiểm của lợn, hiện nay chưa có thuốc chữa trị; vì vậy phải tiêm phòng vắc xin dịch tả lợn khi lợn con được 45 ngày tuổi.
* Bệnh lở mồm long móng: Bệnh lây lan nhanh và chưa có thuốc chữa trị; vì vậy lợn nuôi phải tiêm phòng bằng vắc xin lở mồm long móng lợn.
* Bệnh tụ huyết trùng lợn: Bệnh gây hại cho lợn quanh năm, nhất là vào đầu mùa mưa, gây chết nhanh. Khi lợn được 60 ngày tuổi cần tiêm phòng bằng vắc xin tụ huyết trùng lợn.
* Bệnh lép tô (bệnh lợn nghệ): Lợn mắc bệnh thường khó chữa, khi chữa khỏi thường còi cọc, kém ăn, chậm lớn. Vì vậy lợn cần được tiêm phòng 2 lần cách nhau 7 ngày bằng vắc xin lép tô.
* Chú ý: Khi lợn có biểu hiện bị mắc bệnh phải báo ngay cho cán bộ thú y hoặc cán bộ khuyến nông đến kiểm tra, chữa trị.

II- kỹ thuật chăn nuôi lợn sinh sản


1. Chọn giống:
- Chọn lợn nái giống địa phương: Chọn lợn cái từ những lợn mẹ đẻ lứa thứ 2 trở lên, chọn con mau lớn, khỏe mạnh không có khuyết tật, mõm dài vừa phải, lông thưa, hay ăn, mông không quá dốc, 4 chân khỏe, bộ phận sinh dục bình thường. Hai hàng vú đều, có 8-10 vú, khoảng cách vú thưa.
- Chọn lợn nái Móng Cái: Chọn những con được đẻ ra từ lứa thứ 2 đến lứa thứ 5, có ngoại hình, màu da, lông đặc trưng của giống. Bụng to nhưng không quét đất, ngực sâu, mông nở, đuôi dài, khấu đuôi to. Vú đều, có 12-14 vú, khoảng cách vú thưa, chân thẳng, đi không chạm kheo. Bộ phận sinh dục bình thường, tính hiền, nuôi con khéo. Lợn con 60 ngày tuổi đạt 6-8kg (lợn nội), 10-12kg (lợn lai).
- Chọn lợn đực giống:
+ Giống nội: Có đặc trưng ngoại hình của giống. Chọn con đầu to, ngực nở, mình dài, bụng thon, 4 chân khỏe, hai hòn cà nổi rõ, cân đối, không xệ, tính hăng rõ.
+ Giống ngoại: Mua từ những cơ sở chuyên sản xuất đực giống do Nhà nước quản lý về tiêu chuẩn giống.
2. Phối giống:
- Không ghép đôi phối giống cho lợn nái bằng những con lợn đực có quan hệ họ hàng gần như: bố x con gái, cháu gái hoặc mẹ x con trai, cháu trai. Tuổi phối giống đối với lợn đực giống nội là từ 8-10 tháng, trọng lượng từ 25kg trở lên. Đối với lợn cái từ 8-10 tháng tuổi, trọng lượng từ 35kg trở lên. Khi lợn cái động dục có thể cho lợn đực nhảy trực tiếp hoặc phối tinh lợn đực ngoại (tùy theo mục đích chăn nuôi).
- Thời gian giữa hai lần động dục (chu kỳ động dục) trung bình là 21 ngày, mỗi lần động dục từ 2-3 ngày.
Biểu hiện động dục: Lợn kém ăn, cắn chuồng, nếu nhốt chung thì nhảy lên con khác. Âm hộ tấy đỏ rồi chuyển dần sang đỏ thẫm. Phối giống khi âm hộ chuyển màu (ngày thứ 2). Sau 21 ngày, không thấy hớn lại là lợn có chửa. Thời gian lợn có chửa là 114 ngày kể từ ngày phối giống.
3. Thức ăn, chăm sóc, nuôi dưỡng:
* Thức ăn: Gồm các loại tinh bột ngô, khoai, sắn, cám gạo… Rau xanh các loại: rau lang, rau muống, rau lấp,…
* Chăm sóc, nuôi dưỡng:
- Đối với lợn đực giống: Nên cho ăn nhiều thức ăn tinh, nấu đặc, ít thức ăn xanh hơn để bụng thon, gọn. Hàng ngày phải được vận động. Thời kỳ phối giống cho ăn thêm thóc ủ mầm, bột cá, bột đậu tương. Lợn đực nội phối trực tiếp 1 ngày chỉ phối 1 lần. Lợn đực ngoại 1 tuần chỉ khai thác 3 lần.
- Đối với lợn nái: Lợn hậu bị cho ăn với mức 0,6 đến 0,8kg thức ăn tinh/ngày, nấu chín, chia làm 2-3 bữa. Rau xanh cho ăn sống từ 3-4kg/ngày. Sau khi phối giống, tùy trọng lượng mà cho ăn ở mức 1-1,5kg thức ăn tinh, 4-5kg thức ăn xanh/ngày. Cho ăn thêm bột cá hoặc cua, ốc, bột xương. Trước khi đẻ 3-5 ngày nên cho ăn thức ăn dễ tiêu (cháo, cám loãng).
Biểu hiện lợn sắp đẻ: Bụng to, sụt mông, gặm chuồng tha ổ, âm hộ sưng, ỉa đái khắp chuồng.
Phương pháp đỡ đẻ: Dùng khăn sạch móc nhớt ở mồm, mũi lợn con. Vuốt nhẹ rốn từ ngoài vào trong bụng, dùng chỉ thắt rốn cách bụng 1-2 đốt ngón tay, dùng dao hoặc kéo cắt sau mối thắt. Sát trùng vết cắt bằng cồn iốt 2%. Bấm nanh cho lợn con, lau sạch nhớt rồi thả vào ổ ấm. Lợn mẹ đẻ xong, dùng khăn ấm lau sạch bầu và núm vú rồi thả lợn con vào cho bú sữa đầu. Chú ý: Nên cho những con bé bú ở những vú phía chân trước. Cho lợn mẹ uống nước pha muối nhạt. Chờ lấy hết nhau (không cho lợn mẹ ăn nhau). Trường hợp khó đẻ hoặc sót nhau cần mời cán bộ thú y giúp đỡ.
- Chăm sóc lợn nái sau đẻ: Đối với lợn mẹ sau khi đẻ cho ăn thức ăn dễ tiêu: cháo gạo, cháo cám ngô,… Cho ăn nhiều bữa với lượng từ 2-3kg/ngày. Đối với lợn con: phải có ổ giữ ấm, nhất là tuần đầu mới đẻ và mùa đông (dùng bóng điện). Nền chuồng phải khô ráo, sạch sẽ, không bị trơn trượt. Để phòng bệnh phân trắng cho lợn cần tiêm sắt (Đextranfe) 2 lần vào ngày thứ 3 và ngày thứ 7 sau khi đẻ, mỗi lần tiêm 100mg. Từ 8 ngày tuổi cho lợn con tập ăn sớm. Từ 15-18 ngày thiến lợn đực. 21 ngày tiêm phòng phó thương hàn, 7 ngày sau tiêm nhắc lại. Cai sữa sau 45 ngày. Trước khi xuất bán lợn con phải tiêm phòng theo hướng dẫn của thú y.

III/ Ủ chua rau xanh làm thức ăn cho lợn

Đem ủ các loại rau xanh (dây lá khoai lang, bèo Nhật Bản, cỏ voi, các loại rau ăn...) với các phụ gia (bột sắn, bột ngô, cám gạo, muối ăn), chẳng những tăng được hàm lượng dinh dưỡng cho thức ăn, lợn ham ăn, chóng lớn mà còn dự trữ được lượng lớn thức ăn bổ sung có chất lượng tốt.
Băm nhỏ rau xanh: Băm dài khoảng 0,5-1cm, loại bỏ lá già, lá vàng, lá thối ủng và gốc rễ cứng.
Phơi héo: Đây là một bước rất quan trọng để đảm bảo nguyên tắc làm giảm tỷ lệ nước của nguyên liệu ủ. Sau khi băm nhỏ, rau xanh cần được phơi ngay dưới ánh nắng mặt trời cho đến khi tỷ lệ nước hao mất khoảng 40-45% (đối với dây lá khoai lang); 50-60% đối với bèo Nhật Bản. Riêng thân lá cây ngô không cần phơi héo, chỉ bỏ phần gốc và lá vàng, băm xong để rải mỏng trong bóng mát, tiến hành ủ ngay tránh để lá biến vàng. Một kinh nghiệm tốt cho việc này là: Nắm chặt một nắm rau xanh đã phơi héo trong tay, sau đó mở tay ra. Nếu nắm rau xanh này không nở bung ra và vẫn giữ nguyên hình dạng của nắm tay thì có nghĩa là mức độ phơi héo thế là đủ. Trong điều kiện thời tiết nắng và nóng thì thời gian phơi 2-4 giờ là đủ. Trong quá trình phơi nên đảo thường xuyên để nguyên liệu được héo nhanh và đều. Nên thu hoạch lượng rau xanh vừa đủ để tiến hành công việc băm, phơi héo và ủ trong cùng một ngày và sau khi thu hoạch nên tiến hành ủ càng nhanh càng tốt để giảm mức độ hao hụt chất dinh dưỡng tới mức tối đa.
Cân nguyên liệu: Sau khi phơi héo, nguyên liệu được thu gom lại, để chỗ mát cho nguội và cân theo tỷ lệ của công thức sau: 93,5% rau xanh các loại đã phơi héo + 0,5% muối ăn + 6% bột sắn (hoặc 6% bột ngô, bột gạo, cám gạo).
Trộn và ủ: Nguyên liệu sau khi đã cân được đổ vào đống và trộn đều với nhau bằng tay hoặc bằng xẻng. Để đảm bảo lượng muối được trộn đều trong thức ăn ủ thì trước hết phải trộn đều muối với các phụ gia (cám gạo, bột sắn...) sau đó mới trộn đều với rau xanh. Tốt nhất là ủ trong 3 lớp bao (trong là bao dứa, giữa là nilon, ngoài là bao dứa), như vậy tiện cho ăn hơn và đảm bảo kín không khí trong quá trình cho ăn. Nên cho hỗn hợp thức ăn ủ này vào bao theo từng lớp, sau mỗi lớp dày độ 15-20cm thì dùng tay nắm lại như quả đấm, nén mạnh cho không khí ra khỏi khối thức ăn ủ. Chú ý nén càng mạnh, càng chặt càng tốt và tránh không làm rách bao. Ngay sau khi kết thúc công việc này phải buộc kín ngay bao ủ. Nhớ là phải làm cho không khí ra hết khỏi bao trước khi buộc miệng bao.
Cất giữ các bao thức ăn ủ: Những bao chứa thức ăn ủ chua cần được giữ, bảo quản ở nơi khô ráo, mát và cần tránh chuột, bọ, gián cắn thủng bao, không khí có thể xâm nhập vào bao làm mốc, thối thức ăn. Sau ủ 14 ngày có thể cho gia súc ăn được.
Chú ý không nấu chín thức ăn ủ chua vì sẽ mất vitamin và các chất dinh dưỡng khác. Lợn nái, lợn thịt (trên 50kg) ăn 2-3kg/ngày. Lợn choai (20-30kg) ăn 1-2kg/ngày.

Chúc các bạn thành công!
          

HB!
Tìm tất cả bài viết của thành viên này Add Thank You Trích dẫn bài này trong bài trả lời
Bài viết: #2
07-04-2011 , 09:41 PM
TrungNguyen Offline
Administrator
*******

Bài viết: 622
Thanks Given: 29
Thanks Received: 24 in 21 posts
Tham Gia: Mar 2011
Danh tiếng: 0
RE: Hướng dẫn kỹ thuật chăn nuôi lợn thịt, lợn sinh sản
                                                                                                                                            
Ạc ạc khi nào về quê nuôi lợn thôi
          
Tìm tất cả bài viết của thành viên này Add Thank You Trích dẫn bài này trong bài trả lời
Đăng  trả lời 


Chuyển nhanh: